Tóm tắt: Ngũ Xã, trước gọi là Nam Tràng, khu vực Trúc Bạch, nay thuộc phường Ba Đình, Hà Nội, là một trong những làng nghề đúc đồng tiêu biểu của Thăng Long xưa. Trên cơ sở khảo cứu tư liệu Hán Nôm trong các kho thư tịch cổ kết hợp với ghi chép địa phương, bài viết làm rõ quá trình hình thành, phát triển và đặc trưng văn hóa của làng nghề. Nội dung nghiên cứu tập trung vào ba phương diện chính: nguồn gốc lịch sử và sự định danh Ngũ Xã gắn với quá trình hội tụ thợ thủ công từ nhiều địa phương; vai trò của Thiền sư Nguyễn Minh Không trong tư cách tổ nghề, cùng hiện tượng dung hợp danh xưng Không Lộ - Minh Không trong tín ngưỡng cộng đồng và sự phản ánh nghề đúc đồng Ngũ Xã qua thơ vịnh, địa chí, văn tế và các nguồn tư liệu liên quan. Qua đó, bài viết chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa kỹ nghệ đúc đồng, không gian thờ tự và mạng lưới làng nghề ở đồng bằng Bắc Bộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy Ngũ Xã không chỉ là một trung tâm thủ công nghiệp quan trọng của kinh thành, mà còn là một không gian văn hóa nghề nghiệp đặc thù, gắn với ký ức nghề, tín ngưỡng tổ nghề và sự cố kết cộng đồng được gìn giữ bền bỉ qua nhiều thế kỷ.
Tóm tắt: Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa, các làng nghề truyền thống đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi để thích ứng với kinh tế sáng tạo và thị trường hiện đại. Bài viết tập trung nghiên cứu gốm làng Ngòi (Bắc Ninh) nhằm làm rõ đặc trưng kỹ thuật, thực trạng phát triển của làng nghề trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở khảo sát thực địa và phân tích tài liệu, nghiên cứu chỉ ra rằng gốm làng Ngòi đã bước đầu xây dựng được thương hiệu, tham gia vào thị trường trong nước và quốc tế, song vẫn tồn tại một số hạn chế như quy mô sản xuất nhỏ lẻ, nguồn nhân lực thiếu ổn định, chưa hình thành chuỗi giá trị hoàn chỉnh và chưa khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp theo hướng đổi mới sáng tạo sản phẩm, xây dựng thương hiệu, phát triển du lịch trải nghiệm, ứng dụng công nghệ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ khả năng chuyển đổi của làng nghề truyền thống trong bối cảnh công nghiệp văn hóa, đồng thời cung cấp luận cứ cho việc hoạch định chính sách phát triển bền vững.
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về văn hóa dân gian tại các làng Mọc (Kẻ Mọc) và sự biến đổi của chúng trước tác động của quá trình đô thị hóa tại Hà Nội trong những năm gần đây. Bằng phương pháp tiếp cận liên ngành và điền dã dân tộc học, bài viết phân tích những biến đổi về không gian văn hóa, tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán và quan hệ cộng đồng của cư dân các làng Mọc trong bối cảnh chuyển đổi cấu trúc từ “làng cổ ven đô” sang “làng trong phố”. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đô thị hóa không chỉ làm thay đổi cấu trúc kinh tế - xã hội mà còn tác động mạnh mẽ đến cơ chế lưu truyền và thực hành văn hóa dân gian, làm cho nhiều giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một hoặc biến đổi về chức năng xã hội. Quá trình đó cũng tạo ra những cách thức thích ứng mới, thể hiện sự chủ động và nỗ lực bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng trong bối cảnh hiện đại hóa. Từ đó, bài viết góp phần nhận diện các xu hướng biến đổi văn hóa dân gian các làng Mọc, đề xuất định hướng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển đô thị bền vững.
Tóm tắt: Thờ Tứ Pháp là một hình thức tín ngưỡng dân gian đặc sắc của cư dân nông nghiệp vùng đồng bằng Bắc Bộ, gắn với quá trình tiếp biến giữa tín ngưỡng bản địa và Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ đầu Công nguyên. Trong đó, vùng Dâu - Luy Lâu ở Bắc Ninh được xem là trung tâm khởi phát và lưu giữ nhiều yếu tố cổ xưa của tín ngưỡng này. Trên cơ sở khảo sát hệ thống di tích, lễ hội và các thực hành tín ngưỡng ở vùng Dâu, bài viết tập trung làm rõ những nét đặc trưng của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp thông qua không gian thờ tự, tục thờ Phật Thạch Quang, Phật Mẫu Man Nương và lễ hội vùng Dâu. Qua đó cho thấy vai trò của cộng đồng cư dân trong việc tiếp nhận, sáng tạo và bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống, góp phần hình thành bản sắc văn hóa vùng Kinh Bắc.
Tóm tắt: Làng nghề là nơi lưu truyền những giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ và các kỹ nghề được truyền từ đời này sang đời khác, thông qua các sản phẩm thủ công truyền thống do đội ngũ nghệ nhân làm ra. Vì vậy, để khôi phục và chấn hưng làng nghề, để các làng nghề truyền thống, các giá trị thẩm mỹ của sản phẩm không bị mai một, nghề quý bị thất truyền, thì các làng nghề cần phải quan tâm phát huy tiềm năng văn hóa làng nghề truyền thống gắn với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững du lịch làng nghề. Với bề dày truyền thống gần 1.200 năm lịch sử, thương hiệu lụa Vạn Phúc là một trong những điều mà người dân Vạn Phúc đã tự hào. Nhiều giá trị văn hóa, thẩm mỹ của làng nghề truyền thống lụa Vạn Phúc đang dần bị mai một do phải đối mặt với hàng loạt thách thức đương đại. Vì vậy, việc khai thác hiệu quả tiềm năng các giá trị văn hóa, nghệ thuật làng nghề truyền thống của lụa Vạn Phúc là rất quan trọng và cấp thiết trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc hiện nay.
Tóm tắt: Trên cơ sở tổng hợp tư liệu nghiên cứu và khảo sát thực tiễn, bài viết làm rõ một số đặc điểm biến đổi và tái cấu trúc không gian văn hóa, các thực hành lễ hội, tín ngưỡng, quan hệ cộng đồng và phong tục vòng đời của cư dân làng xã đô thị Thanh Hóa. Kết quả cho thấy đô thị hóa không làm mất đi văn hóa làng xã, mà thúc đẩy quá trình tái cấu trúc theo hướng chọn lọc và thích ứng. Một số giá trị truyền thống được duy trì dưới dạng biểu trưng, trong khi nhiều thực hành văn hóa được điều chỉnh cho phù hợp với không gian và cơ chế quản lý đô thị. Qua đó, bài viết góp phần nhận diện đặc trưng của văn hóa làng xã đô thị Thanh Hóa và gợi mở một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý và bảo tồn văn hóa hiện nay.
Tóm tắt: Lễ hội làng Triều Khúc là lễ hội tiêu biểu của vùng châu thổ sông Hồng, nơi lưu giữ hệ thống nghi lễ và diễn xướng dân gian phong phú, phản ánh các giá trị lịch sử và tín ngưỡng cộng đồng. Trong cấu trúc lễ hội, diễn xướng dân gian giữ vị trí trung tâm, vừa là phương thức thực hành di sản, vừa là môi trường hội tụ các yếu tố nghệ thuật, xã hội và tâm linh. Diễn xướng dân gian không chỉ là hoạt động trình diễn mà còn là một hệ thống hành vi văn hóa, nơi con người, không gian, thời gian và niềm tin hòa quyện, tạo nên “đời sống” của di sản. Trong bối cảnh nhiều lễ hội truyền thống ở Hà Nội đang biến đổi, việc nghiên cứu diễn xướng dân gian trong lễ hội làng Triều Khúc góp phần nhận diện giá trị di sản, đồng thời làm rõ cách thức cộng đồng bảo tồn, trao truyền và tái tạo bản sắc văn hóa trong quá trình đô thị hóa.
Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, dân tộc Ngái ở Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ mai một ngôn ngữ và các giá trị văn hóa truyền thống do quy mô dân số nhỏ và phân bố phân tán. Bài viết tổng quan các nghiên cứu về người Ngái trên các phương diện lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh tài liệu. Kết quả cho thấy các nghiên cứu còn rời rạc, thiếu tính hệ thống, đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ học và nghiên cứu văn hóa chuyên sâu; nhiều vấn đề như biến đổi văn hóa, bản sắc tộc người và chính sách bảo tồn chưa được làm rõ. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hướng tiếp cận liên ngành, kết hợp nghiên cứu thực địa và ứng dụng công nghệ nhằm bảo tồn và phát huy giá trị ngôn ngữ - văn hóa, góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách phù hợp.
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu các đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người Chăm ở tỉnh Khánh Hòa, bao gồm khía cạnh vật chất, tinh thần và xã hội. Từ đó hướng tới nhận diện bản sắc riêng biệt của ẩm thực Chăm, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa ẩm thực đang dần mai một trong bối cảnh giao lưu và hội nhập văn hóa. Việc nghiên cứu và bảo tồn các đặc trưng văn hóa ẩm thực Chăm không chỉ có ý nghĩa trong việc gìn giữ di sản tộc người, mà còn góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế du lịch nâng cao đời sống cho bà con Chăm ở tỉnh Khánh Hòa.
Tóm tắt: Văn hóa dòng họ là một nguồn lực xã hội quan trọng trong việc gìn giữ truyền thống hiếu học và bồi dưỡng tinh thần học tập của thế hệ trẻ ở Nghệ An. Trên cơ sở khảo sát 300 người thuộc ba dòng họ tiêu biểu tại Quỳnh Lưu, Nghi Lộc và Nam Đàn, bài viết phân tích mức độ tổ chức hoạt động khuyến học, các hình thức hỗ trợ chủ yếu, mức độ ảnh hưởng của truyền thống dòng họ đến động lực học tập và những rào cản trong quá trình triển khai. Kết quả cho thấy văn hóa dòng họ vẫn có tác động tích cực đến việc khơi dậy ý thức học tập, nhưng mức độ phát huy giữa các dòng họ chưa đồng đều và đang chịu ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, tổ chức cộng đồng và môi trường số. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy giá trị của văn hóa dòng họ trong bối cảnh hiện nay
Tóm tắt: Bài viết tiếp cận trường hợp bãi Cồn Tiên từ góc nhìn nhân học về tri thức bản địa và di sản văn hóa phi vật thể, nhằm làm rõ cách cộng đồng cư dân ven biển duy trì, thực hành và tái tạo vốn hiểu biết địa phương trong quá trình mưu sinh và thích ứng với môi trường đất ngập nước. Trên cơ sở tư liệu điền dã dân tộc học, bài viết cho thấy tri thức về lịch con nước, chu kỳ vầng trăng, độ mặn, mùa vụ không chỉ là những kinh nghiệm sản xuất đơn lẻ mà cấu thành một hệ thống tri thức thực hành được tích lũy, truyền dạy và kiểm nghiệm qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và suy thoái môi trường ven biển ngày càng trở nên nghiêm trọng, hệ tri thức này tiếp tục được vận dụng linh hoạt trong các hoạt động sinh kế, đặc biệt là mô hình vườn ươm cây bần ở bãi triều. Từ đó, các tác giả lập luận rằng tri thức bản địa của cư dân Đồng Châu có thể được nhìn nhận như một dạng văn hóa sống, tích lũy qua quá trình lao động thường nhật, được biểu đạt thông qua năng lực đọc môi trường tự nhiên. Các tri thức sinh thái của cộng đồng không ngừng được tái tạo và thích ứng và làm nên một nguồn lực văn hóa quan trọng cho bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước và phát triển sinh kế bền vững ven biển.