Tóm tắt: Văn hóa của 53 dân tộc thiểu số là thành tố cốt lõi tạo nên sự đa dạng và thống nhất của nền văn hóa Việt Nam. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, chuyển đổi số được xác định là cơ hội đột phá để xây dựng hệ sinh thái số và số hóa dữ liệu tộc người, giúp hiện đại hóa phương thức bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa. Bài viết nhận diện những thành tựu, hạn chế trong việc “số hóa” cũng như năng lực số và hạ tầng công nghệ số tại vùng dân tộc thiểu số trong vấn đề bảo tồn, phát triển ngôn ngữ, trang phục, lễ hội, nghệ thuật và du lịch văn hóa cộng đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp mang tính hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống cho đồng bào trong bối cảnh chuyển đổi số và kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tóm tắt: Làng nghề là nơi lưu truyền những giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ và các kỹ nghề được truyền từ đời này sang đời khác, thông qua các sản phẩm thủ công truyền thống do đội ngũ nghệ nhân làm ra. Vì vậy, để khôi phục và chấn hưng làng nghề, để các làng nghề truyền thống, các giá trị thẩm mỹ của sản phẩm không bị mai một, nghề quý bị thất truyền, thì các làng nghề cần phải quan tâm phát huy tiềm năng văn hóa làng nghề truyền thống gắn với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững du lịch làng nghề. Với bề dày truyền thống gần 1.200 năm lịch sử, thương hiệu lụa Vạn Phúc là một trong những điều mà người dân Vạn Phúc đã tự hào. Nhiều giá trị văn hóa, thẩm mỹ của làng nghề truyền thống lụa Vạn Phúc đang dần bị mai một do phải đối mặt với hàng loạt thách thức đương đại. Vì vậy, việc khai thác hiệu quả tiềm năng các giá trị văn hóa, nghệ thuật làng nghề truyền thống của lụa Vạn Phúc là rất quan trọng và cấp thiết trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc hiện nay.
Tóm tắt: Trên cơ sở tổng hợp tư liệu nghiên cứu và khảo sát thực tiễn, bài viết làm rõ một số đặc điểm biến đổi và tái cấu trúc không gian văn hóa, các thực hành lễ hội, tín ngưỡng, quan hệ cộng đồng và phong tục vòng đời của cư dân làng xã đô thị Thanh Hóa. Kết quả cho thấy đô thị hóa không làm mất đi văn hóa làng xã, mà thúc đẩy quá trình tái cấu trúc theo hướng chọn lọc và thích ứng. Một số giá trị truyền thống được duy trì dưới dạng biểu trưng, trong khi nhiều thực hành văn hóa được điều chỉnh cho phù hợp với không gian và cơ chế quản lý đô thị. Qua đó, bài viết góp phần nhận diện đặc trưng của văn hóa làng xã đô thị Thanh Hóa và gợi mở một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý và bảo tồn văn hóa hiện nay.
Tóm tắt: Lễ hội làng Triều Khúc là lễ hội tiêu biểu của vùng châu thổ sông Hồng, nơi lưu giữ hệ thống nghi lễ và diễn xướng dân gian phong phú, phản ánh các giá trị lịch sử và tín ngưỡng cộng đồng. Trong cấu trúc lễ hội, diễn xướng dân gian giữ vị trí trung tâm, vừa là phương thức thực hành di sản, vừa là môi trường hội tụ các yếu tố nghệ thuật, xã hội và tâm linh. Diễn xướng dân gian không chỉ là hoạt động trình diễn mà còn là một hệ thống hành vi văn hóa, nơi con người, không gian, thời gian và niềm tin hòa quyện, tạo nên “đời sống” của di sản. Trong bối cảnh nhiều lễ hội truyền thống ở Hà Nội đang biến đổi, việc nghiên cứu diễn xướng dân gian trong lễ hội làng Triều Khúc góp phần nhận diện giá trị di sản, đồng thời làm rõ cách thức cộng đồng bảo tồn, trao truyền và tái tạo bản sắc văn hóa trong quá trình đô thị hóa.
Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, dân tộc Ngái ở Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ mai một ngôn ngữ và các giá trị văn hóa truyền thống do quy mô dân số nhỏ và phân bố phân tán. Bài viết tổng quan các nghiên cứu về người Ngái trên các phương diện lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh tài liệu. Kết quả cho thấy các nghiên cứu còn rời rạc, thiếu tính hệ thống, đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ học và nghiên cứu văn hóa chuyên sâu; nhiều vấn đề như biến đổi văn hóa, bản sắc tộc người và chính sách bảo tồn chưa được làm rõ. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hướng tiếp cận liên ngành, kết hợp nghiên cứu thực địa và ứng dụng công nghệ nhằm bảo tồn và phát huy giá trị ngôn ngữ - văn hóa, góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách phù hợp.
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu các đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người Chăm ở tỉnh Khánh Hòa, bao gồm khía cạnh vật chất, tinh thần và xã hội. Từ đó hướng tới nhận diện bản sắc riêng biệt của ẩm thực Chăm, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa ẩm thực đang dần mai một trong bối cảnh giao lưu và hội nhập văn hóa. Việc nghiên cứu và bảo tồn các đặc trưng văn hóa ẩm thực Chăm không chỉ có ý nghĩa trong việc gìn giữ di sản tộc người, mà còn góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế du lịch nâng cao đời sống cho bà con Chăm ở tỉnh Khánh Hòa.
Tóm tắt: Văn hóa dòng họ là một nguồn lực xã hội quan trọng trong việc gìn giữ truyền thống hiếu học và bồi dưỡng tinh thần học tập của thế hệ trẻ ở Nghệ An. Trên cơ sở khảo sát 300 người thuộc ba dòng họ tiêu biểu tại Quỳnh Lưu, Nghi Lộc và Nam Đàn, bài viết phân tích mức độ tổ chức hoạt động khuyến học, các hình thức hỗ trợ chủ yếu, mức độ ảnh hưởng của truyền thống dòng họ đến động lực học tập và những rào cản trong quá trình triển khai. Kết quả cho thấy văn hóa dòng họ vẫn có tác động tích cực đến việc khơi dậy ý thức học tập, nhưng mức độ phát huy giữa các dòng họ chưa đồng đều và đang chịu ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, tổ chức cộng đồng và môi trường số. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy giá trị của văn hóa dòng họ trong bối cảnh hiện nay
Tóm tắt: Bài viết tiếp cận trường hợp bãi Cồn Tiên từ góc nhìn nhân học về tri thức bản địa và di sản văn hóa phi vật thể, nhằm làm rõ cách cộng đồng cư dân ven biển duy trì, thực hành và tái tạo vốn hiểu biết địa phương trong quá trình mưu sinh và thích ứng với môi trường đất ngập nước. Trên cơ sở tư liệu điền dã dân tộc học, bài viết cho thấy tri thức về lịch con nước, chu kỳ vầng trăng, độ mặn, mùa vụ không chỉ là những kinh nghiệm sản xuất đơn lẻ mà cấu thành một hệ thống tri thức thực hành được tích lũy, truyền dạy và kiểm nghiệm qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và suy thoái môi trường ven biển ngày càng trở nên nghiêm trọng, hệ tri thức này tiếp tục được vận dụng linh hoạt trong các hoạt động sinh kế, đặc biệt là mô hình vườn ươm cây bần ở bãi triều. Từ đó, các tác giả lập luận rằng tri thức bản địa của cư dân Đồng Châu có thể được nhìn nhận như một dạng văn hóa sống, tích lũy qua quá trình lao động thường nhật, được biểu đạt thông qua năng lực đọc môi trường tự nhiên. Các tri thức sinh thái của cộng đồng không ngừng được tái tạo và thích ứng và làm nên một nguồn lực văn hóa quan trọng cho bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước và phát triển sinh kế bền vững ven biển.
Tóm tắt: Gắn kết di sản nghề kim hoàn và thiết kế trang sức là hoạt động sáng tạo dựa trên sự kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống kết hợp với tư duy thiết kế hiện đại, để tạo ra các sản phẩm trang sức mang đậm bản sắc riêng của từng làng nghề kim hoàn, hướng đến sự phù hợp với xu hướng thẩm mỹ của người sử dụng trong xã hội hiện đại. Trong đó, việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá mẫu mã sản phẩm dựa trên mô hình sản xuất, kinh doanh thực tế đóng vai trò quan trọng để đề xuất các phương thức thiết kế về kiểu dáng và chất liệu phù hợp với kỹ thuật chế tác đặc trưng, đồng thời kết hợp hiệu quả với công nghệ sản xuất hiện đại. Sự kết hợp này góp phần mở ra thêm hướng đi cho sản phẩm của các làng nghề kim hoàn, thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm trang sức trên thị trường trong và ngoài nước.
Tóm tắt: Bài viết khảo sát lễ hội biển Thanh Hóa trong bối cảnh du lịch phục hồi sau đại dịch và xu hướng “sự kiện hóa” lễ hội. Mục tiêu là nhận diện hệ giá trị văn hóa, phân tích biến đổi đương đại dưới tác động của thị trường, quản trị điểm đến và truyền thông số, đồng thời gợi mở hàm ý quản trị bền vững. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính dựa trên dữ liệu thứ cấp, gồm tổng quan tài liệu, phân tích tư liệu chính sách, thống kê và trường hợp minh họa. Kết quả cho thấy lễ hội biển ngày càng vận hành như một “hệ sự kiện” có kế hoạch với các cấu phần: khai mạc mùa du lịch, trình diễn nghệ thuật, hoạt động thể thao, giải trí, không gian dịch vụ và truyền thông số. Giá trị văn hóa thể hiện qua bốn lớp: tâm linh, tín ngưỡng, cộng đồng, xã hội, nghệ thuật, thẩm mỹ và tri thức môi trường, sinh kế. Quá trình sự kiện hóa, chuyên nghiệp hóa và thương mại hóa tạo cơ hội kích cầu, nhưng làm tăng rủi ro suy giảm tính xác thực, bất cân xứng lợi ích và áp lực môi trường - sức chứa. Từ vấn đề đặt ra, bài viết đề xuất cân bằng xác thực văn hóa và hiệu quả kinh tế thông qua kịch bản dựa trên di sản sống, tăng đồng quản trị cộng đồng, quản lý tác động theo vòng đời sự kiện và đánh giá đa chiều.
Tóm tắt: Hiện nay, việc dạy chữ Thái ở tỉnh Thanh Hóa và những tài liệu được sử dụng để giảng dạy chữ Thái truyền thống nơi đây là khác nhau trong địa bàn. Tình trạng đó có ảnh hưởng nhất định đến kết quả truyền dạy chữ Thái cổ truyền thống cho học sinh phổ thông cũng như cho người dân với mục đích bảo tồn văn hóa Thái của địa phương. Bài viết phân tích sự hiện diện những dạng thức chữ Thái truyền thống khác nhau được sử dụng dạy học nhằm bảo tồn văn hóa Thái ở địa phương; đồng thời nêu ra suy nghĩ của mình đối với vấn đề cách thức truyền dạy chữ Thái trong cộng đồng cũng như trong nhà trường phổ thông nhằm mục đích lưu giữ và phát huy văn hóa người Thái ở Thanh Hóa.