Tóm tắt: Kể từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, dân ca quan họ - di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của người dân xứ Kinh Bắc đã được quan tâm phục hồi và dần phát triển. Với giá trị hàm chứa trong hệ thống các bài dân ca, thông qua các lề lối thực hành được nuôi dưỡng trong môi trường văn hóa độc đáo, “Dân ca quan họ Bắc Ninh” đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009. Từ đó đến nay, trải qua 15 năm được vinh danh, dân ca quan họ đã được sự quan tâm sâu rộng từ chính quyền các cấp đến cộng đồng và đội ngũ quản lý văn hóa, các nhà khoa học, các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhờ đó, di sản quan họ đã có được sức sống mãnh liệt, lan tỏa sâu rộng từ 49 làng quan họ gốc ra nhiều địa phương trên phạm vi cả nước và các vùng đất có người Việt sinh sống ở nước ngoài. Bài viết này đánh giá sơ lược về hiện trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản dân ca quan họ ở một số lĩnh vực kể từ sau khi di sản được UNESCO ghi danh, từ đó nhận diện một số bài học kinh nghiệm và đề cập khái quát một số vấn đề đặt ra hiện nay.
Tóm tắt: Lễ hội Bà Phi Yến tại Côn Đảo, được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia không chỉ là nghi lễ tín ngưỡng truyền thống mà còn là không gian “tái tạo truyền thống” giàu tính biểu diễn. Năm 2024, kỳ giỗ lần thứ 239 được tổ chức trong bối cảnh yêu cầu bảo tồn gắn với phát huy di sản ngày càng cao, đồng thời chịu tác động của xu hướng sân khấu hóa và truyền thông số. Trên cơ sở khung lý luận về sáng tạo truyền thống của Eric Hobsbawm (2011), Lương Văn Hy và Trương Huyền Chi (2012), kết hợp với quan điểm nghiên cứu của tác giả, bài viết xây dựng bốn tiêu chí phân tích: tính nguyên gốc, tính thích ứng, tính thẩm mỹ, tính cộng đồng. Nghiên cứu trường hợp cho thấy các hình thức sáng tạo truyền thống trong lễ hội vừa bảo tồn giá trị gốc, vừa đổi mới phương thức biểu đạt, qua đó nâng cao sức hấp dẫn, tính lan tỏa và khả năng gắn kết cộng đồng của di sản.
Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu vai trò của cộng đồng làng Xuân Phả trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản trò Xuân Phả tại địa phương. Tác giả nhận diện cộng đồng không chỉ là những người thực hành di sản mà còn là chủ thể tiên quyết trong việc lưu giữ ký ức văn hóa, truyền dạy kỹ năng và huy động các nguồn lực xã hội hóa để duy trì sức sống cho di sản. Thực trạng nghiên cứu cho thấy người dân địa phương có tinh thần tự giác rất cao trong việc tham gia thực hành di sản và đóng góp nguồn lực, vật chất, tuy nhiên quyền năng trong việc giám sát và ra quyết định quản trị vẫn còn những hạn chế nhất định. Trước những tác động từ đời sống hiện đại và nguy cơ đối với di sản, bài viết nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về việc chuyển đổi mô hình quản lý. Theo đó, cộng đồng cần phát huy quyền tự chủ thực chất, kết hợp chặt chẽ giữa sự hỗ trợ của Nhà nước và tính tự quản của cộng đồng nhằm bảo vệ và phát huy di sản một cách hiệu quả trong bối cảnh mới.
Tóm tắt: Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt, thuộc xã Tây Sơn, tỉnh Gia Lai (trước đây là tỉnh Bình Định) là Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, được biết đến như một không gian thờ tự linh thiêng của ba anh em nhà Tây Sơn (Nguyễn Nhạc - Nguyễn Huệ - Nguyễn Lữ), hiện nay là một địa điểm quan trọng mang nhiều giá trị văn hóa và ý nghĩa lịch sử đối với địa phương và quốc gia. Bài viết tiếp cận di sản không phải là một giá trị sẵn có, mà là sự vận động xã hội, để phân tích quá trình di sản hóa tại đền thờ. Trên cơ sở tiếp cận trường hợp nghiên cứu, bài viết tập trung làm rõ ba phương diện chính của quá trình di sản hóa: đền thờ được lựa chọn như một đối tượng di sản; đền được gán thêm các lớp nghĩa vượt ra ngoài chức năng thờ tự và trở thành một biểu tượng lịch sử - văn hóa; các thực hành lễ hội và nghi lễ tưởng niệm góp phần duy trì và phổ biến ý nghĩa di sản của đền thờ trong đời sống hiện đại. Từ đó, nghiên cứu cho thấy đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt ngày nay đã trở thành nơi giao thoa ký ức lịch sử, thực hành văn hóa, giáo dục truyền thống và diễn ngôn di sản. Trường hợp này góp phần gợi mở cách nhìn rộng hơn về các đền thờ nhân vật lịch sử ở Việt Nam như những không gian, nơi mà quá khứ liên tục được kiến tạo, gán nghĩa và tái tổ chức trong hiện tại.
Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ chế thích ứng của di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng người Mông tại Sa Pa dưới tác động của du lịch. Nghiên cứu tập trung vào quá trình thương lượng giữa bảo tồn và đổi mới, giữa sinh hoạt nội bộ và nhu cầu trình diễn, cũng như giữa sinh kế và bản sắc tộc người. Sử dụng phương pháp định tính với 15 cuộc phỏng vấn sâu và 6 đợt quan sát tham dự tại 5 bản du lịch, dữ liệu được xử lý qua phân tích chủ đề và lý thuyết mạng lưới tác nhân. Kết quả chỉ ra bốn mô hình thích ứng cốt lõi: chuyển đổi chức năng nghi lễ sang hướng trình diễn; đổi mới nghề thủ công gắn với thị trường và tính xác thực; sự hình thành bản sắc lai ghép ở thế hệ trẻ trong vai trò trung gian văn hóa; dịch chuyển sang cơ chế đồng quản lý di sản giữa cộng đồng và chính quyền. Từ đó, bài viết đề xuất mô hình tương tác đa chiều, cung cấp cơ sở khoa học cho các chính sách phát triển du lịch có trách nhiệm và bền vững văn hóa tại vùng dân tộc thiểu số.
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích di tích đền Cuông với phát triển du lịch văn hóa tỉnh Nghệ An trong bối cảnh chuyển đổi và hội nhập hiện nay. Trên cơ sở tư liệu khoa học, khảo sát thực địa, nghiên cứu làm rõ giá trị lịch sử, tín ngưỡng và vai trò của đền Cuông, thành tố trong hệ thống di sản văn hóa Bắc Trung Bộ trong hoạt động du lịch. Công tác bảo tồn đã có chuyển biến tích cực nhưng hoạt động khai thác du lịch văn hóa còn hạn chế, sản phẩm thiếu đặc trưng và tính kết nối vùng chưa cao. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa, bao gồm việc áp dụng chuyển đổi số và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung về khoa học và thực tiễn cho quản lý di sản gắn với phát triển du lịch, đồng thời, khẳng định giá trị biểu tượng của đền Cuông trong phát triển du lịch văn hóa bền vững tỉnh Nghệ An hiện nay.
Tóm tắt: Với vị thế là trung tâm chính trị, hành chính và văn hóa của cả nước, Thủ đô Hà Nội sở hữu hệ thống di tích phong phú, đa dạng về loại hình và giá trị, phản ánh chiều sâu lịch sử và bản sắc văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Trên cơ sở tiếp cận hệ thống di tích như một nguồn lực nhân văn, bài viết khái quát hệ thống di tích của Hà Nội và làm rõ việc chuyển hóa các giá trị vào đời sống thông qua giáo dục truyền thống, xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng, phát triển du lịch văn hóa và thúc đẩy các hoạt động sáng tạo văn hóa. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác giá trị di tích cho phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
Tóm tắt: Khu di tích đền tháp Mỹ Sơn, thành phố Đà Nẵng, được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào năm 1999, là một trong những khu vực quan trọng nhất về mặt lịch sử, kiến trúc và văn hóa của Việt Nam. Đây là quần thể các đền tháp của vương quốc Chămpa cổ, với lịch sử kéo dài hơn một thiên niên kỷ. Tuy nhiên, giống như nhiều di sản văn hóa khác trên thế giới, di tích đền tháp Mỹ Sơn đang đối diện với nhiều thách thức trong việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị. Bài viết tập trung vào việc áp dụng lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) trong công tác quản lý di sản thế giới Mỹ Sơn để làm sáng tỏ một số vấn đề: Lý thuyết các bên liên quan và áp dụng lý thuyết các bên liên quan trong quản lý di sản thế giới Mỹ Sơn; Vấn đề đặt ra trong công tác quản lý di sản Mỹ Sơn từ phương diện các bên liên quan; Đề xuất giải pháp quản lý di sản thế giới Mỹ Sơn nhìn từ góc độ các bên liên quan.
Pác Bó, Cao Bằng - mảnh đất thiêng liêng, đầu nguồn cách mạng, nơi đã gắn liền với một thời kỳ hoạt động cách mạng rất quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 28-1-1941, thời khắc lịch sử lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt chân tới cột mốc 108, nằm trên biên giới Việt - Trung (thuộc tỉnh Cao Bằng) trở về Tổ quốc sau 30 năm ở nước ngoài tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Cùng với những di sản văn hóa vật thể, sự trường tồn của những sự kiện lịch sử liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh - “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất” còn được kết tinh đậm nét trong những di sản văn hóa rất quý giá là những văn kiện, những tác phẩm, những bài viết do chính Người soạn thảo tại nơi đây.
Tóm tắt: Lễ hội đền Trần tại xã Long Hưng, tỉnh Hưng Yên là di sản văn hóa phi vật thể quan trọng, gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhà Trần. Lễ hội mang ý nghĩa và giá trị lịch sử - văn hóa sâu sắc, phản ánh truyền thống tốt đẹp “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân ta. Trong bối cảnh hiện nay, trước tác động của quá trình đô thị hóa, toàn cầu hóa và sự thay đổi trong đời sống xã hội, việc bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội đền Trần trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Công tác bảo tồn không chỉ nhằm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn góp phần thúc đẩy phát triển du lịch, kinh tế, xã hội địa phương theo hướng bền vững. Bài viết này tập trung phân tích những giá trị nổi bật của lễ hội đền Trần, đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy, đồng thời, đề xuất những giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy giá trị của lễ hội đền Trần trong giai đoạn hiện nay.
Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia sở hữu một kho tàng di sản văn hóa phong phú về loại hình, đa dạng về chủng loại, trong đó có những di tích được UNESCO công nhận như: Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Di sản Mỹ Sơn, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, vịnh Hạ Long và Quần thể danh thắng Tràng An. Hiện nay, công tác quản lý những di sản này thường theo mô hình “bảo tồn thôn tính” hoặc “bảo tồn cạnh tranh”, về ngắn hạn phương pháp quản lý này đem lại lợi ích kinh tế, nhưng về dài hạn tiềm ẩn nguy cơ hủy hoại các yếu tố gốc và cản trở phát triển bền vững của di sản. Từ kinh nghiệm quản lý di sản thế giới ở Hàn Quốc và Thái Lan, bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược đầu tư dài hạn và có chiều sâu. Đặc biệt, những quốc gia này áp dụng mô hình “Bảo tồn cộng sinh” nhằm giảm áp lực di sản, tạo nguồn sinh kế cho cộng đồng và tái đầu tư cho di sản.