Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích trải nghiệm Templestay như một hình thức du lịch dựa vào di sản văn hóa Phật giáo tại một số quốc gia Đông Bắc Á, nhằm gợi mở định hướng phát triển cho Việt Nam. Kết quả cho thấy hoạt động Templestay tại Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc không tồn tại mô hình đồng nhất mà được hiện thực hóa khác nhau theo bối cảnh văn hóa - xã hội ở mỗi quốc gia. Hàn Quốc phát triển theo hướng có cấu trúc hệ thống, Nhật Bản nhấn mạnh trải nghiệm nội quán, trong khi Trung Quốc linh hoạt kết hợp với các hình thức chữa lành. Từ đó, nghiên cứu nhấn mạnh rằng việc phát triển Templestay tại Việt Nam cần dựa trên thiết kế trải nghiệm cấu trúc, thay vì sao chép mô hình. Đồng thời, nghiên cứu góp phần làm rõ cách thức Templestay được hình thành và vận hành trong bối cảnh hiện nay.
Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình tái cấu trúc nghề gốm truyền thống tại làng Bàu Trúc trong bối cảnh phát triển du lịch. Dựa trên khảo sát thực địa, kết hợp quan sát tham dự, phỏng vấn sâu và tư liệu thứ cấp, cùng với tiếp cận lý thuyết về tái cấu trúc văn hóa, nghiên cứu cho thấy dưới tác động của thị trường du lịch, thực hành nghề gốm đang có những chuyển biến đáng kể. Quá trình này thể hiện ở ba phương diện chính: gia tăng quy mô và mức độ tham gia của các hộ dân; mở rộng tổ chức sản xuất theo hướng đa dạng và hình thành các liên kết chuỗi giá trị; cùng với sự tái định vị danh mục sản phẩm từ gốm gia dụng sang gốm mỹ nghệ. Bên cạnh đó, những điều chỉnh về kỹ thuật sản xuất, phân công lao động, phương thức tiêu thụ và cách thức trình hiện nghề gốm như một sản phẩm du lịch cho thấy năng lực thích ứng linh hoạt của cộng đồng, trong khi các yếu tố cốt lõi như kỹ thuật thủ công, tri thức bản địa và ý nghĩa văn hóa vẫn được duy trì. Từ đó, bài viết góp phần làm rõ cơ chế vận hành của quá trình tái cấu trúc các thực hành sản xuất, đồng thời gợi mở cách tiếp cận phân tích thực hành nghề từ góc nhìn chủ thể tự quyết trong bối cảnh du lịch.
Tóm tắt: Nghiên cứu phân tích liên kết trong phát triển du lịch văn hóa gắn với Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ từ góc nhìn quản trị điểm đến dựa trên di sản. Trên cơ sở thiết kế nghiên cứu trường hợp định tính, bài viết khai thác công trình khoa học, hồ sơ UNESCO, văn bản chính sách và báo cáo chuyên ngành được cập nhật đến tháng 7/2025. Dữ liệu được xử lý bằng phân tích nội dung theo sáu chiều: quản lý và hoạch định chính sách, tổ chức không gian du lịch, phát triển sản phẩm, xúc tiến quảng bá, đào tạo nguồn nhân lực, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Kết quả cho thấy liên kết trong bảo tồn di sản, tổ chức lễ hội và huy động cộng đồng đã hình thành tương đối rõ, song liên kết chức năng phục vụ vận hành sản phẩm du lịch còn thiếu ổn định. Các không gian văn hóa vệ tinh chưa được tích hợp thành hệ sản phẩm thường xuyên; quảng bá còn phụ thuộc nhiều vào sự kiện; cơ chế cộng đồng tham gia thiết kế, cung ứng và phân phối lợi ích chưa được thể hiện rõ. Nghiên cứu chỉ ra khoảng cách giữa mạng lưới bảo tồn di sản và mạng lưới tạo giá trị du lịch, từ đó đề xuất chuyển từ phối hợp theo sự kiện sang quản trị điểm đến thường trực và phát triển sản phẩm theo cấu trúc trung tâm - vệ tinh.
Tóm tắt: Mặc dù định hướng phát triển bền vững đang trở thành mục tiêu ưu tiên, nhưng tác động của các quy trình làm việc phi chính thức đối với hành vi bảo vệ môi trường của nhân viên trong ngành Lưu trú vẫn chưa được làm rõ. Nghiên cứu này được thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu tình huống nhúng, dựa trên dữ liệu từ 45 cuộc phỏng vấn chuyên sâu tại các khách sạn ở Anh và Việt Nam. Kết quả nghiên cứu chứng minh rằng sự tự phát và tính phi chính thức trong thực tiễn tiêu thụ năng lượng đóng vai trò như một rào cản lớn, ngăn cản việc thực thi các hành vi thân thiện với môi trường tại nơi làm việc. Những “quy tắc bất thành văn”, sự thiếu vắng các tài liệu chuẩn hóa và áp lực vận hành dịch vụ khiến nhân viên có xu hướng ưu tiên sự tiện lợi cá nhân thay vì các cam kết sinh thái của tổ chức. Phát hiện này đóng góp trực tiếp vào khuôn khổ lý thuyết về sự bền vững trong ngành Dịch vụ, mang đến góc nhìn mới mẻ về tác động của các thực tiễn phi chính thức tại môi trường làm việc đặc thù của khách sạn.
Tóm tắt: Ngành Du lịch Việt Nam bước vào một giai đoạn phát triển mới sau khi đạt kỷ lục đón 21,2 triệu lượt khách quốc tế vào năm 2025. Khi quốc gia này chuyển dịch từ giai đoạn phục hồi nhanh chóng sau đại dịch COVID-19 sang tăng trưởng du lịch bền vững, trọng tâm chiến lược đang dịch chuyển từ quy mô số lượng khách sang giá trị của khách du lịch. Hàn Quốc đã nổi lên như một thị trường then chốt trong sự chuyển dịch này, đóng góp hơn 4,3 triệu lượt khách vào năm 2025 và duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ trong đầu năm 2026. Nghiên cứu này xem xét các đặc điểm của khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam, đồng thời, xác định các phân khúc chính thúc đẩy nhu cầu đối với các trải nghiệm du lịch chất lượng cao. Thông qua phân tích phân khúc thị trường và nghiên cứu các hành vi du lịch mới nổi, nghiên cứu làm nổi bật ba nhóm khách Hàn Quốc chiếm ưu thế: thế hệ New Silver, thế hệ Millennials và thế hệ MZ và những khách du lịch trung thành (đến nhiều lần). Nghiên cứu đề xuất một khung chiến lược dựa trên các yếu tố: cá nhân hóa, cao cấp hóa, hợp tác công - tư, và sự hội tụ giữa thị trường du lịch với thị trường MICE cao cấp nhằm hỗ trợ tham vọng thu hút 25 triệu lượt khách quốc tế của Việt Nam vào năm 2026, đồng thời gia tăng giá trị thặng dư tạo ra từ du lịch.
Tóm tắt: Du lịch ngày càng giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Cùng với nhu cầu di chuyển và sự đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, du lịch Hồi giáo nổi lên như một phân khúc giàu tiềm năng. Malaysia, thành viên Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC) và có Hồi giáo là quốc giáo, đã khai thác hiệu quả yếu tố văn hóa - tôn giáo để phát triển loại hình du lịch này. Thông qua quảng bá lễ hội ẩm thực Halal, hội nghị và sự kiện thời trang Hồi giáo, Malaysia xây dựng thành công hình ảnh điểm đến thân thiện với du khách Hồi giáo và trung tâm Halal toàn cầu. Kinh nghiệm này mang lại nhiều bài học cho Việt Nam trong hoạch định chính sách, phát triển hạ tầng và nâng cao hình ảnh du lịch Halal để thu hút thị trường khách tiềm năng.
Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của văn hóa ứng xử trong du lịch bền vững, nhấn mạnh mối quan hệ giữa nhận thức, giá trị văn hóa và hành vi của du khách. Trên cơ sở tổng hợp lý luận từ các công trình nghiên cứu quốc tế, bài viết làm rõ cách các chuẩn mực văn hóa, bối cảnh xã hội và điều kiện điểm đến định hình hành vi du lịch bền vững, đồng thời chỉ ra khoảng cách phổ biến giữa hiểu biết và hành động. Từ đó, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp gồm truyền thông giá trị văn hóa - xã hội, thiết lập chuẩn mực ứng xử, phát huy vai trò cộng đồng và hướng dẫn viên, ứng dụng thiết kế hành vi và tăng cường giáo dục du lịch có trách nhiệm. Những phân tích này góp phần định hướng xây dựng văn hóa ứng xử bền vững trong bối cảnh phát triển du lịch hiện đại.
Tóm tắt: Bài viết phân tích xu hướng nhu cầu và xu hướng hành vi của khách du lịch nội địa tại Việt Nam hiện nay. Thông qua mô hình nghiên cứu kết hợp giữa điều tra xã hội học khách du lịch và phỏng vấn chuyên sâu chuyên gia du lịch, kết quả cho thấy xu hướng tự chủ chuyến đi, sự phát triển của loại hình du lịch trải nghiệm, du lịch xanh và sự tương đồng cao giữa kỳ vọng của du khách với đánh giá của chuyên gia về các rào cản đang hạn chế sự phát triển du lịch nội địa như hạ tầng, chất lượng dịch vụ, quản lý điểm đến. Bài viết đề xuất các khuyến nghị chính sách thúc đẩy sự phát triển bền vững của du lịch nội địa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Tóm tắt: Trong bối cảnh kinh tế sáng tạo phát triển mạnh, các ngành công nghiệp văn hóa ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh quốc gia và thúc đẩy du lịch. Bài viết nghiên cứu sức hút của các sản phẩm công nghiệp văn hóa đối với quyết định đi du lịch của giới trẻ tại Hà Nội - nhóm khách du lịch năng động, nhạy bén với xu hướng văn hóa và truyền thông số. Trên cơ sở tổng hợp lý thuyết hành vi tiêu dùng du lịch và khảo sát 200 người trẻ (18-30 tuổi) tại Hà Nội, kết quả cho thấy 83% người được hỏi bị ảnh hưởng bởi ít nhất một sản phẩm công nghiệp văn hóa (phim ảnh, âm nhạc, lễ hội, không gian sáng tạo…) trong việc hình thành ý định du lịch. Nghiên cứu góp phần làm rõ mối quan hệ giữa công nghiệp văn hóa và hành vi du lịch, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy giá trị văn hóa sáng tạo trong phát triển sản phẩm du lịch hướng đến giới trẻ.
Tóm tắt: Bài viết sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả trên 500 đơn vị mẫu khảo sát, được xử lý bằng phần mềm SPSS 20, nhằm khám phá cách thức khách du lịch tiếp cận thông tin, lựa chọn và cảm nhận thương hiệu điểm đến Nghệ An trên các nền tảng mạng xã hội. Kết quả nghiên cứu cho thấy mạng xã hội, đặc biệt là Facebook và TikTok, giữ vai trò nổi bật trong việc tiếp cận thông tin du lịch. Tuy nhiên, quyết định lựa chọn điểm đến vẫn chủ yếu chịu tác động từ các yếu tố nội tại như cảnh quan, ẩm thực và giá trị lịch sử, văn hóa, trong khi ảnh hưởng trực tiếp của truyền thông số còn hạn chế. Đồng thời, thương hiệu điểm đến Nghệ An được đánh giá tích cực về hình ảnh tổng thể, nhưng mức độ khác biệt và nổi bật chưa cao. Các liên tưởng thương hiệu chủ yếu mang tính cảm xúc và ổn định, tập trung vào các giá trị như thân thiện, yên bình và truyền thống. Từ những kết quả này, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về cơ chế hình thành nhận thức thương hiệu điểm đến, đồng thời, đề xuất một số hàm ý cho hoạt động xúc tiến thương hiệu điểm đến Nghệ An trên nền tảng mạng xã hội.
Tóm tắt: Nghiên cứu tích hợp Thuyết xác nhận kỳ vọng (ECT), mô hình Kano và S-O-R nhằm khắc phục giới hạn của thang đo tuyến tính trong việc giải mã thế giới nội tâm của khách du lịch nội địa đối với dịch vụ mặt đất. Phân tích nội dung định hướng (DQCA) và Kỹ thuật sự cố tới hạn (CIT) được áp dụng qua phỏng vấn sâu tại Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất nhằm bóc tách kỳ vọng của khách công tác kết hợp nghỉ dưỡng, khách có nhu cầu đặc biệt và tự túc. Thực chứng chỉ ra tính bất đối xứng đứt gãy hạ tầng vi phạm nhóm yếu tố cơ bản, kiến tạo tương tác nhân văn tiêu cực và hào quang ngược đe dọa ý định quay lại điểm đến. Ngược lại, văn hóa ứng xử chủ động của các chủ thể thực hành văn hóa (nhân viên) và thẩm mỹ không gian chữa lành kiến tạo xác nhận tích cực, chuyển hóa lo âu thành sự thích thú tột độ, thúc đẩy truyền miệng điện tử (eWOM). Khám phá này tái khẳng định vai trò đại sứ thương hiệu của sân bay, đề xuất chiến lược quản trị bằng cảm xúc và bản địa hóa không gian.