Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ và sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo, việc hình thành và thúc đẩy văn hóa học tập chủ động trong giáo dục đại học trở thành yêu cầu tất yếu. Người học không còn chỉ tiếp nhận tri thức một cách thụ động mà cần chủ động tìm kiếm, lựa chọn, đánh giá và ứng dụng tri thức thông qua các công cụ số và AI. Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý luận về văn hóa học tập chủ động trong môi trường giáo dục số; đánh giá thực trạng hình thành văn hóa học tập chủ động của sinh viên Việt Nam thông qua các dữ liệu khảo sát gần đây; đồng thời chỉ ra những cơ hội và thách thức đặt ra đối với các cơ sở giáo dục đại học trong quá trình chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy văn hóa học tập chủ động. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình giáo dục đại học hiện đại, lấy người học làm trung tâm trong kỷ nguyên số.
Game là một trong những ngành thuộc lĩnh vực "Phần mềm và các trò chơi giải trí"được định hướng phát triển trong Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Cùng với xu hướng đó, board game Việt Nam khai thác chất liệu văn hóa ngày càng được giới trẻ ưa chuộng; tuy nhiên, để hình thành một ngành có doanh thu bền vững, rất cần các giải pháp đồng bộ.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và khoa học – công nghệ phát triển nhanh, công nghiệp văn hóa đang được nhiều quốc gia xem là lĩnh vực chiến lược: vừa tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế – xã hội, vừa góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Từ yêu cầu thực tiễn, Việt Nam không chỉ tăng cường hoàn thiện thể chế, chính sách, mà còn cụ thể hóa định hướng bằng việc ban hành Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược này đặt nền tảng cho việc phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời gia tăng “sức mạnh mềm” và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Việt Nam sở hữu nền văn hóa đa dạng của 54 dân tộc, không chỉ phong phú về phong tục, tập quán mà còn kết tinh trong các trang phục truyền thống. Mỗi cộng đồng đều có trang phục truyền thống riêng, song nổi bật và được nhận diện rộng rãi nhất chính là áo dài. Bài viết phân tích những giá trị văn hóa – thẩm mỹ – biểu tượng của áo dài, từ đó đề xuất hướng khai thác trong đời sống đương đại và định vị áo dài như một sản phẩm trọng điểm của công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Thời trang là một trong những lĩnh vực của ngành công nghiệp văn hóa. Trong bối cảnh cả nước thúc đẩy kinh tế sáng tạo, việc đưa giá trị trang phục truyền thống vào đời sống đương đại ngày càng được chú trọng, bởi đó là cách để văn hóa chuyển hóa thành sức mạnh mềm, nuôi dưỡng bản sắc đồng thời tạo ra động lực kinh tế mới. Trong hành trình đó, “Tri thức may, mặc Áo dài Huế” đang trở thành một nền tảng quan trọng giúp thành phố Huế tạo dựng ngành công nghiệp văn hóa mang bản sắc riêng.
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu tri thức chính trị như một dạng tri thức văn hóa đặc thù của Nam Bộ, phản ánh mối quan hệ giữa nhận thức, hành vi và giá trị sống trong bối cảnh chuyển đổi xã hội và chuyển đổi số. Trên nền tảng truyền thống (nghĩa tình - khoan dung), người Nam Bộ đang tái cấu trúc tri thức chính trị thông qua văn hóa số, thể hiện qua sáng tạo nghệ thuật, truyền thông mạng và diễn ngôn xã hội. Bằng phương pháp định tính (phân tích diễn ngôn, phỏng vấn, quan sát thực địa tại Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, trước tháng 7-2025), bài viết làm rõ đặc trưng và sự chuyển hóa của tri thức chính trị Nam Bộ từ truyền thống sang hiện đại. Từ đó, tác giả đề xuất hướng phát huy giá trị tri thức này để xây dựng bản lĩnh công dân số Việt Nam, kết hợp bản sắc văn hóa dân tộc và thích ứng sáng tạo trong kỷ nguyên số.
Trong thời đại hội nhập quốc tế sâu rộng và cách mạng công nghiệp 4.0, bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của nền công nghiệp văn hóa Việt Nam. Quyền tác giả và quyền liên quan bảo đảm lợi ích cho người sáng tạo, doanh nghiệp và cộng đồng, đồng thời định hình văn hóa, phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần và quảng bá hình ảnh quốc gia.
Trong Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, thủ công mỹ nghệ được xác định là một trong 12 lĩnh vực trụ cột, góp phần tạo ra những sản phẩm - dịch vụ văn hóa có tính cạnh tranh cao, tạo thêm công ăn việc làm ổn định, đóng góp tích cực cho nền kinh tế, góp phần đưa văn hóa Việt Nam ra với thế giới, phát huy nội lực, quảng bá hình ảnh đất nước. Đây là sự khẳng định tầm nhìn của Đảng và Nhà nước trong phát triển văn hóa: từ “bảo tồn thuần túy” sang “phát triển dựa trên sáng tạo”, từ “giữ gìn giá trị” sang “chuyển hóa giá trị văn hóa thành nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế bền vững”.
Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của sức mạnh mềm văn hóa trong chiến lược đối ngoại của Cộng hòa Pháp, nơi văn hóa được coi là cốt lõi làm nên uy tín và tầm ảnh hưởng quốc gia. Pháp đã xây dựng mạng lưới rộng khắp các viện văn hóa, trường đại học, tổ chức nghệ thuật, điện ảnh và truyền thông quốc tế, qua đó quảng bá ngôn ngữ, di sản và lối sống Pháp ra toàn cầu. Nhờ đó, Pháp không chỉ duy trì vị thế cường quốc văn hóa mà còn gắn kết hiệu quả ngoại giao chính trị, kinh tế và giáo dục. Từ trường hợp này, bài viết rút ra bài học cho Việt Nam: cần có tầm nhìn chiến lược dài hạn, đầu tư thiết chế văn hóa đối ngoại, phát huy giá trị ngôn ngữ và di sản, đa dạng hóa kênh truyền thông, đồng thời kết hợp văn hóa với lợi ích kinh tế, chính trị. Văn hóa, vì vậy, không chỉ là “mặt mềm” mà là một trụ cột chiến lược trong phát triển và hội nhập quốc tế.
Tóm tắt: Nghi lễ trong nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay đóng vai trò quan trọng trong giáo dục và rèn luyện học viên, góp phần hình thành phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Thông qua các nghi lễ truyền thống, nhà trường quân đội giáo dục sâu sắc về truyền thống yêu nước, lý tưởng cách mạng; xây dựng ý thức tổ chức kỷ luật, lễ tiết tác phong chính quy; bồi đắp tinh thần đoàn kết, niềm tự hào và trách nhiệm của quân nhân đối với Tổ quốc. Nghi lễ được thực hiện trang trọng, thống nhất cũng góp phần tạo dựng môi trường văn hóa sư phạm quân sự mẫu mực, nâng cao hiệu quả đào tạo. Trong bối cảnh mới, việc tổ chức nghi lễ cần tiếp tục được phát huy một cách sáng tạo, tránh hình thức, nhằm giữ vững và lan tỏa những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tóm tắt: Tỉnh Đồng Nai hiện là nơi cư trú tập trung của cộng đồng người S’tiêng - một dân tộc thiểu số có bản sắc văn hóa phong phú và tổ chức xã hội đặc thù. Việc nghiên cứu về vai trò phụ nữ S’tiêng tại Đồng Nai được thực hiện qua hai khung lý thuyết:“thương lượng với chế độ phụ quyền” (Kandiyoti) và “nhóm câm lặng” (E. Ardener) của bài viết đã cho thấy phụ nữ S’tiêng vừa đối diện cấu trúc quyền lực truyền thống, vừa thích ứng với hội nhập và biến đổi gia đình; đồng thời, sự so sánh nhóm phụ hệ (Bù Lơ) và mẫu hệ (Bù Đéc) là chiến lược thương lượng giới khác biệt, phản ánh sự bền bỉ của chuẩn mực văn hóa và tính chủ động tái định nghĩa vai trò phụ nữ S’tiêng đã được mở rộng vị trí trong kinh tế hộ gia đình, nghi lễ, dòng họ và cộng đồng. Bên cạnh đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nội sinh nhằm tăng quyền năng phụ nữ, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển bền vững dựa vào nội lực cộng đồng.