Bước chuyển đột phá về thể chế để văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia

Trong lịch sử phát triển của dân tộc, văn hóa chưa bao giờ là một lĩnh vực đứng bên ngoài vận mệnh quốc gia. Văn hóa là nơi kết tinh ký ức, bản lĩnh, trí tuệ, nhân cách và khát vọng của cộng đồng dân tộc; là sức mạnh giúp đất nước vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất; là nền tảng tinh thần để con người Việt Nam biết mình là ai, đến từ đâu và phải đi tới tương lai bằng tâm thế nào. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, văn hóa không chỉ cần được nhìn nhận như di sản tinh thần hay hệ giá trị cần bảo vệ, mà còn phải được đặt vào trung tâm của tư duy phát triển, trở thành nguồn lực nội sinh, động lực đổi mới sáng tạo, sức mạnh mềm quốc gia và một thành tố quan trọng của năng lực cạnh tranh.

Tính tổng hợp trong các hệ phái, tôn giáo mới ở Nam Bộ

Tóm tắt: Văn hóa Việt nói chung, văn hóa Nam Bộ nói riêng đều có tính tổng hợp. Nhờ có tính tổng mà các nền văn hóa, tôn giáo trên thế giới khi du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận. Đặc biệt ở vùng Nam Bộ, nơi có nhiều tộc người sinh sống; nhiều tôn giáo, tín ngưỡng hoạt động sôi động thì tinh thần dung hợp lại diễn ra mạnh mẽ. Nhiều hệ phái, tôn giáo mới ra đời tại vùng đất này vào những năm đầu TK XX có thể kể đến Hệ phái Khất sĩ, Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài. Sự tổng hợp trong Hệ phái Khất sĩ, Phật giáo Hòa Hảo, đạo Cao Đài tạo ra một hình thức hệ phái, tôn giáo mới vừa mới lạ, vừa thân quen, thu hút rất đông đảo quần chúng ở Nam Bộ tin tưởng. Phải nói nhờ có tính tổng hợp mới có các hệ phái, tôn giáo nội sinh như Hệ phái Khất sĩ, Phật giáo Hòa Hảo, đạo Cao Đài ra đời và phát triển như ngày hôm nay.

Tự quản cộng đồng dân tộc thiểu số trong phát triển miền núi phía Bắc

Tóm tắt: Tự quản cộng đồng dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc là một hình thức tập hợp tổ, nhóm các cá nhân hoặc hộ gia đình trong một địa bàn dân cư theo nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm và tương trợ lẫn nhau. Các mô hình tự quản cộng đồng được xây dựng dựa trên cơ sở tuân thủ tập tục truyền thống, cũng như pháp luật của Nhà nước nhằm đảm bảo an ninh trật tự, phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương và xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, khu vực này ngày càng xuất hiện nhiều nhân tố đa dạng và phức tạp của kinh tế thị trường, tình trạng buôn lậu ma túy, mua bán người, lừa đảo trên không gian mạng và thảm họa thiên tai đòi hỏi các mô hình tự quản cần phải có các hình thức và nội dung thích hợp. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá mô hình tự quản tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong cộng đồng các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc hiện nay có ý nghĩa thực tiễn và lý luận to lớn.

Bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản - Nhìn từ Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV

Trong dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV có đề cập đến vấn đề “Bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản”. Vậy bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa? Khái niệm của kinh tế di sản? Các loại hình kinh tế di sản? Mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy hiệu quả các giá trị di sản và kinh tế di sản là như thế nào? Đó là những nội dung quan trọng trong bài viết này.

Bảo tồn di sản trong chiến lược phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam theo những quan điểm mới trong Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV

Phát triển văn hóa và con người Việt Nam theo tinh thần dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ là một chiến lược đồng bộ, kết hợp hài hòa giữa giữ gìn truyền thống văn hóa và vươn tới hiện đại hóa. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng Việt Nam thành một quốc gia hùng cường, thịnh vượng với mô hình xã hội văn minh, hiện đại nơi con người là chủ thể, trung tâm và là động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Đây là một nhiệm vụ lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Một số biến đổi về văn hóa của cư dân vùng chiêm trũng châu thổ Bắc Bộ qua trường hợp làng Xuân La, xã Phượng Dực (Hà Nội)

Tóm tắt: Do đặc điểm cấu tạo về địa hình mà văn hóa ăn, ở, đi lại của cư dân vùng đồng chiêm trũng ở châu thổ Bắc Bộ cũng có những nét khác biệt so với cư dân vùng đồng mùa, nơi có cấu tạo địa hình cao hơn so với mực nước biển. Vài chục năm sau Đổi mới, dưới sự tác động của xu thế toàn cầu hóa, hiện đại hóa, văn hóa ăn, ở, đi lại của cư dân vùng đồng chiêm trũng cũng có những biến đổi mạnh mẽ mang những đặc điểm riêng. Tìm hiểu về biến đổi trong văn hóa ăn, ở, đi lại của cư dân ở các làng chiêm trũng châu thổ Bắc Bộ (qua trường hợp làng Xuân La, xã Phượng Dực, thành phố Hà Nội) nhằm nhận diện các đặc điểm của sự biến đổi trong văn hóa vật chất của người dân, giúp các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách phát triển văn hóa bền vững.

Tín ngưỡng thờ Mẫu và Thiền Trúc Lâm ở Tuyên Quang với việc phát huy giá trị trong bối cảnh hội nhập đa văn hóa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập đa văn hóa, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống là nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt tại Tuyên Quang - vùng đất giàu bản sắc, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu và Thiền Trúc Lâm. Hai giá trị này không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo mà còn là nền tảng tinh thần và văn hóa của cộng đồng. Bài viết tập trung làm rõ vai trò và phương thức phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu và Thiền Trúc Lâm trong đời sống văn hóa Tuyên Quang hiện nay.

Phát triển không gian văn hóa - du lịch và lễ hội đình - miếu Cái Chiên: Cơ sở lý luận, đánh giá hiện trạng và mô hình tổ chức tích hợp hướng tới bền vững

Tóm tắt: Bài viết đề xuất cách tiếp cận phát triển không gian văn hóa - du lịch và tổ chức lễ hội tại cụm di tích đình - miếu Cái Chiên, xã Cái Chiên, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tổng hợp lý thuyết, chuẩn mực quốc tế và quy phạm pháp luật Việt Nam, đối chiếu với dữ liệu thực địa, tư liệu lịch sử, văn hóa địa phương. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình tổ chức không gian tích hợp 4 lớp (lõi thiêng; không gian trình diễn và tuyến rước; không gian dịch vụ du lịch sinh thái - văn hóa; vùng đệm sinh thái), kèm cơ chế đồng quản trị cộng đồng, quy trình đánh giá tác động di sản (HIA) và bộ chỉ số theo dõi sức chứa, giới hạn biến đổi chấp nhận được (LAC). Kết quả hướng tới bảo tồn giá trị gốc, nâng cao trải nghiệm du khách, tạo sinh kế bền vững và phù hợp với các quy hoạch hiện hành của tỉnh Quảng Ninh, đồng thời đóng góp một mô hình thực hành có thể nhân rộng cho các cụm di tích ven biển - hải đảo ở Việt Nam.

Phát triển nghệ thuật trên không gian mạng trong bối cảnh chuyển đổi số: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tóm tắt: Chuyển đổi số là xu thế tất yếu trong bối cảnh đương đại. Để thích ứng và phát triển, các ngành nghệ thuật Việt Nam đang có những thay đổi căn bản từ phương thức sáng tác, sản xuất đến lưu hành, phổ biến, tiêu dùng. Không gian mạng mở ra những chân trời mới cho sự phát triển của nghệ thuật số, tuy nhiên, song hành với đó là những thách thức, khó khăn không nhỏ. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của 3 quốc gia đạt nhiều thành công trong phát triển nghệ thuật gắn với chuyển đổi số là Hàn Quốc, Trung Quốc và Vương quốc Anh, bài viết rút ra một số bài học thiết thực và gợi ý chính sách hữu ích cho Việt Nam trong những vấn đề liên quan.

Công nghiệp văn hóa toàn cầu trong kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo: Cơ hội, thách thức và hành động chính sách

Tóm tắt: Bài viết phân tích sự tác động sâu rộng của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) đến công nghiệp văn hóa toàn cầu. Sự bùng nổ của các công nghệ sáng tạo như AI sinh ngữ, AI thị giác, các nền tảng số và không gian ảo đang tái cấu trúc từ quy trình sáng tạo, cách thức phân phối đến mô hình tiêu dùng văn hóa. Bên cạnh các cơ hội thúc đẩy sáng tạo, mở rộng khả năng tiếp cận và bảo tồn di sản, bài viết làm rõ các thách thức về bản quyền, đạo đức, định danh nghệ sĩ và bất bình đẳng công nghệ. Từ đó, tác giả đề xuất các hướng đi chính sách và chiến lược phát triển văn hóa bền vững, bảo đảm tính đa dạng, bản sắc và nhân văn trong thời đại số.