Trong không gian rộn ràng của Ngày hội văn hóa dân tộc Mường lần thứ II, giữa tiếng cồng chiêng, điệu múa, nơi không gian trưng bày của tỉnh Sơn La, có một người đàn ông kiên nhẫn ngồi bên bó nứa, tỉ mẩn khoan từng lỗ nhỏ trên thân ống. Đó là nghệ nhân Đinh Thế Dương, 60 tuổi (xã Phù Yên, tỉnh Sơn La) – người đã dành nhiều tâm huyết với cây sáo Ôi, một nhạc cụ truyền thống của dân tộc người Mường nơi vùng cao Tây Bắc.
Qua câu chuyện của nghệ nhân, tôi được biết, mối duyên với sáo Ôi đến với ông có từ thủa còn cắp sách đến trường. Khi đó, mỗi lần tan học về, ông thường thấy các cụ, các ông trong bản ngồi trước hiên nhà, bên bếp lửa, vừa chuyện trò vừa cầm cây sáo Ôi thổi những giai điệu mộc mạc mà “rất hồn”. “Lúc ấy tôi chỉ thấy tiếng sáo sao mà vừa vui, vừa hồn, nó chạm vào mình lúc nào không hay. Nghe nhiều thành mê, rồi cứ thế lần mò xin các cụ dạy, các cụ lại thương, truyền cho” – ông nhớ lại.
Cứ thế, tiếng sáo Ôi theo ông suốt từ thủa còn là học sinh đến khi trưởng thành và cho đến nay. Tiếng sáo Ôi đã gắn bó và trở thành niềm đam mê, không thể tách rời trong cuộc sống của nghệ nhân.
Với nhiều người, sáo chỉ là một nhạc cụ mang lại giai điệu. Nhưng với ông Dương, sáo Ôi là cả một phần ký ức, là tiếng gọi của núi rừng, của nếp nhà sàn, của những đêm thanh vắng ở bản làng Mường.

Nghệ nhân Đinh Thế Dương
Ông kể, ngày trước, trong những dịp lễ, Tết, ngày hội hay những lúc nông nhàn, tiếng sáo Ôi gần như là “bạn đường” của trai bản: “Ngày xưa các cụ đi tán gái cũng hay cầm theo sáo Ôi đấy. Thổi lên một điệu là gái bản biết ngay ai đang đứng dưới chân dốc, ai đang gửi lời qua tiếng sáo”.
Chia sẻ về cách làm sáo Ôi, nghệ nhân Đinh Thế Dương cho biết, để có được một tiếng sáo “vừa vui vừa hồn”, thì không hề đơn giản, đòi hỏi nhiều công phu. Việc đầu tiên và quan trọng bậc nhất là chọn nứa. Không phải cây nứa nào cũng làm được sáo; nứa phải có độ già vừa phải, thân tròn, thành ống không quá dày cũng không quá mỏng. “Cây nứa mà mỏng quá thì âm nó chói, dày quá thì tiếng bị đục, không vang. Phải nhìn, phải sờ, phải quen tay lắm mới chọn được cây ưng ý” – ông giải thích.
Nứa đem về không chế tác ngay mà phải phơi và hong cho thật khô. Ông thường phơi nắng hoặc treo trên gác bếp để khói và hơi nóng hong dần. Nghệ nhân cho biết: “Phải để ống nứa khô từ từ, dần dần thì mới bền. Nếu làm khô đột ngột, sau này tiếng sáo sẽ không hay, ống lại dễ nứt nẻ. Khi ống nứa khô đều, mới bắt đầu chế tác”.
Theo ông, khâu khó nhất là đo kích cỡ và định âm cho từng cây sáo. Để có cây sáo trầm, ấm, phải chọn ống nứa to, thân dày vừa phải; để có tiếng trong, thanh, thì dùng ống nhỏ hơn. Kích thước thân sáo sẽ quyết định âm thanh: trầm, đục, hay cao, thanh.
Tiếp đó là xác định vị trí và khoảng cách giữa các lỗ sáo – thứ tạo nên “xương sống” của giai điệu. “Khoảng cách giữa các lỗ phải chuẩn thì âm nó mới chuẩn. Chỉ cần sai lệch một chút thôi, thổi lên sẽ không hay. Làm lâu rồi thì mình quen tai, quen tay, nhưng mỗi cây sáo vẫn phải đo, phải thử rất kỹ” – ông Dương nói.
Một cây sáo Ôi hoàn chỉnh không chỉ cần đúng kích cỡ, mà mỗi lỗ, mỗi khoảng cách đều phải “ăn khớp” với nhau. Sai lệch chỉ vài milimet, tiếng sáo đã khác hẳn. Ông bảo, đến giờ, dù làm đã quen tay, mỗi lần khoét lỗ, ông vẫn phải vừa làm vừa thử, chỉnh từng chút: “Quan trọng nhất là khi thổi lên, tiếng sáo phải hay. Muốn thế, phải có kỹ thuật thì âm mới chuẩn, tiếng mới ấm. Chứ mình làm không đúng, cái lỗ phát âm ra nó không chuẩn là coi như không đủ tiêu chuẩn”.
Điều thú vị là sáo Ôi không chỉ gắn với riêng người Mường. Ông Dương cho biết, dân tộc Thái cũng sử dụng loại sáo này, nên cây sáo Ôi trở thành một nhịp nối giữa các tộc người ở vùng núi Sơn La: “Sáo Ôi không chỉ người Mường dùng, mà dân tộc Thái cũng dùng, nên cái nghề làm sáo này ở vùng tôi vẫn duy trì được. Lễ, tết, ngày hội thì hay dùng lắm. Còn những lúc ngồi thư giãn, người ta cũng hay thổi chơi”.
Trong ngày hội văn hóa, khi du khách tò mò dừng chân, ông vừa thực hiện các quá trình làm sáo, vừa thổi, vừa giải thích để mọi người cùng hiểu hơn về cây sáo Ôi, nhạc cụ truyền thống gắn bó với đời sống của người Mường vùng đất Sơn La.
Ở tuổi 60, khi được hỏi điều ông trăn trở nhất là gì, nghệ nhân Đinh Thế Dương không nói nhiều về bản thân, mà nghĩ ngay đến chuyện truyền dạy: “Mỗi khi có lễ hội hoặc làng có việc, đông vui, tôi lại tranh thủ truyền dạy cho con cháu, cho các bạn trẻ nào yêu thích sáo Ôi. Trong mỗi buổi dạy, tôi luôn nhắc nhở các bạn trẻ về sự độc đáo của sáo Ôi, cũng như ý nghĩa quan trọng của nhạc cụ trong đời sống âm nhạc của người Mường. Có những cháu đam mê, tò mò về cây sáo và cách làm, tôi đều dạy cho các bạn”.
Không chỉ dạy ở trong làng, ông còn tham gia câu lạc bộ truyền dạy âm nhạc dân tộc Mường. Ban đầu, câu lạc bộ chỉ lác đác vài hội viên, đến nay đa phần là người trung tuổi. Dần dần, tiếng sáo, điệu hát, tiếng cồng chiêng lan ra, lôi kéo cả lớp trẻ: “Mới đầu ít lắm, nhưng giờ câu lạc bộ đông hơn rồi. Những cháu nào đam mê thì cũng đến học, hỏi, tôi đều truyền lại những gì mình biết”- ông mộc mạc chia sẻ.
Trong bối cảnh đời sống hiện đại, khi điện thoại thông minh, mạng xã hội, nhạc số tràn vào từng bản làng, việc một người thợ già ở Sơn La vẫn miệt mài với sáo Ôi, vẫn loay hoay tìm cách giữ chân bọn trẻ ở lại với nhạc cụ truyền thống, là điều không hề dễ dàng. Nghệ nhân bày tỏ: “Giờ bọn trẻ có nhiều thứ để chơi, để nghe, cũng khó bắt chúng ngồi yên một chỗ mà học làm sáo, học thổi sáo. Nhưng miễn còn có người đam mê, thì tôi còn dạy. Chỉ có truyền dạy mới bảo tồn được tiếng sáo Ôi truyền thống của người Mường”.
Tiếng sáo Ôi mà ông Đinh Thế Dương gìn giữ không chỉ là âm thanh của một loại nhạc cụ, mà còn là tiếng nói của núi rừng, của ký ức cộng đồng và của chính tâm hồn người Mường vùng đất Sơn La. Giữ được tiếng sáo ấy ngân lên giữa đại ngàn, cũng là cách mà ông và nhiều nghệ nhân đang gìn giữ bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc, quê hương.
Bài, ảnh: BÍCH NGỌC
.png)



.jpg)

.jpg)
