Tóm tắt: Bài viết phân tích những giá trị cơ bản của phương Đông trong nhận thức về văn hóa và con người, đồng thời, làm rõ thực tiễn vận dụng các giá trị này trong quá trình phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở tiếp cận từ góc độ triết học và văn hóa học, bài viết khẳng định các giá trị như đề cao đạo đức, tinh thần cộng đồng, sự hài hòa giữa con người với tự nhiên và trách nhiệm xã hội đã trở thành nền tảng quan trọng của đời sống văn hóa phương Đông. Trong thực tiễn Việt Nam, các giá trị phương Đông được tiếp thu, chọn lọc và vận dụng linh hoạt trong quá trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát triển con người Việt Nam toàn diện. Bài viết cũng chỉ ra những thách thức đặt ra trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi số, từ đó rút ra một số bài học nhằm phát huy hiệu quả các giá trị phương Đông trong sự phát triển bền vững của đất nước hiện nay.
Tóm tắt: Trên cơ sở tổng hợp tư liệu nghiên cứu và khảo sát thực tiễn, bài viết làm rõ một số đặc điểm biến đổi và tái cấu trúc không gian văn hóa, các thực hành lễ hội, tín ngưỡng, quan hệ cộng đồng và phong tục vòng đời của cư dân làng xã đô thị Thanh Hóa. Kết quả cho thấy đô thị hóa không làm mất đi văn hóa làng xã, mà thúc đẩy quá trình tái cấu trúc theo hướng chọn lọc và thích ứng. Một số giá trị truyền thống được duy trì dưới dạng biểu trưng, trong khi nhiều thực hành văn hóa được điều chỉnh cho phù hợp với không gian và cơ chế quản lý đô thị. Qua đó, bài viết góp phần nhận diện đặc trưng của văn hóa làng xã đô thị Thanh Hóa và gợi mở một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý và bảo tồn văn hóa hiện nay.
Có những cuốn sách khi ra đời không chỉ thuộc về đời sống văn chương. Nó bước vào đời sống xã hội, chạm đến ký ức cộng đồng, đánh động tình cảm của nhân dân và đặt ra những câu hỏi lớn hơn chính số phận của một tác phẩm. Sự việc liên quan đến cuốn “Chuyện với Thanh – Lời kể mới về ánh sáng” là một trường hợp như vậy.
Tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra một tầm nhìn mới về đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Đó là nền đối ngoại không chỉ giữ gìn môi trường hòa bình, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, mà còn kiến tạo năng lực phát triển, lan tỏa bản sắc văn hóa, nâng tầm vị thế đất nước và đóng góp có trách nhiệm vào nền văn minh nhân loại. Trong tầm nhìn ấy, đối ngoại không đứng bên ngoài văn hóa, mà chính là một biểu hiện tập trung của bản lĩnh văn hóa Việt Nam: độc lập mà rộng mở, tự chủ mà hòa hiếu, kiên định mà linh hoạt, vì lợi ích dân tộc nhưng luôn gắn với trách nhiệm chung của nhân loại.
Trong kỷ nguyên số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể chỉ dừng ở việc xử lý thông tin sai lệch sau khi đã lan truyền. Trước những tác động ngày càng tinh vi của AI tạo sinh, deepfake, thuật toán mạng xã hội và các sản phẩm văn hóa số xuyên biên giới, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng một “lá chắn mềm” bằng bản lĩnh văn hóa, năng lực phản biện, trách nhiệm công dân số và hệ sinh thái nội dung tích cực.
Không gian mạng đang trở thành mặt trận tư tưởng đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên số. Tại đây, những tác động đến nhận thức xã hội không chỉ đến từ các luận điệu sai trái trực diện mà còn âm thầm len lỏi qua thuật toán, AI tạo sinh, dòng chảy cảm xúc và các sản phẩm văn hóa số được lan truyền mỗi ngày. Khi nội dung bị cắt ghép, diễn giải và khuếch đại trên mạng xã hội, những “sóng ngầm” ấy có thể từng bước làm lệch chuẩn nhận thức, gây nhiễu loạn thông tin và ảnh hưởng đến niềm tin xã hội. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường số hôm nay không chỉ là đấu tranh với thông tin xấu độc mà còn là giữ vững khả năng dẫn dắt nhận thức trong dòng chảy văn hóa số.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng, có tính sống còn và lâu dài đối với cả hệ thống chính trị. Điều này càng trở nên cấp bách hơn trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát triển khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế. Nhiều vấn đề đang đặt ra đối với việc nhận diện , đấu tranh và phản bác các luận điệu thù địch, sai trái trên không gian mạng, khi mà các sản phẩm số xuất hiện từng giờ, từng phút. Đồng thời, phải có nhiều giải pháp đồng bộ để "phủ xanh" thông tin tích cực , tạo thế "phòng ngừa" một cách chủ động và hiệu quả.
Tóm tắt: Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ra đời trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIV không chỉ khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn mở ra bước chuyển tư duy quan trọng: coi văn hóa là nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và hệ điều tiết phát triển bền vững. Trong dòng chảy ấy, công nghiệp văn hóa không còn là “lĩnh vực hỗ trợ” mà được định vị như một trụ cột mới của nền kinh tế tri thức, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng, xuất khẩu, xây dựng thương hiệu quốc gia và sức mạnh mềm Việt Nam. Quyết định 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã cụ thể hóa mạnh mẽ định hướng này, nhấn mạnh phát triển có trọng tâm, trọng điểm; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bảo hộ sở hữu trí tuệ và hình thành hệ sinh thái sáng tạo. Bài viết phân tích sự hội tụ chính sách giữa Nghị quyết 80-NQ/TW, Quyết định 2486/QĐ-TTg và Báo cáo chính trị Đại hội XIV, từ đó đề xuất các đột phá thể chế, hạ tầng, nhân lực và thị trường nhằm đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới, lan tỏa giá trị Việt Nam ra thế giới, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình.
Tóm tắt: Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đặt nền móng cho công cuộc kiến thiết đất nước, xây dựng nền văn hóa mới. Trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt chú trọng phát triển văn hóa, trong đó, tư tưởng “Đời sống mới” là nội dung xuyên suốt, mang tính định hướng cho việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Bài viết tập trung phân tích thực trạng vận dụng tư tưởng trên vào phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, từ đó đánh giá các thành tựu, hạn chế và đề xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trong bối cảnh hiện nay.
Tóm tắt: Bài viết làm rõ bước chuyển mới trong quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam thông qua phân tích, so sánh Nghị quyết số 33-NQ/TW (2014) và Nghị quyết số 80-NQ/TW (2026). Trên cơ sở kế thừa quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực tạo sức mạnh nội sinh cho phát triển bền vững, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã phát triển và làm sâu sắc hơn các nội dung về hệ giá trị, không gian văn hóa số, công nghiệp văn hóa và mô hình quản trị văn hóa hiện đại, qua đó gợi mở một số hàm ý chính sách cho việc triển khai nghị quyết trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Tóm tắt: Kinh tế di sản đang nổi lên như một chiến lược đột phá nhằm chuyển đổi các giá trị văn hóa, lịch sử thành nguồn lực kinh tế bền vững cho quốc gia và cộng đồng. Lần đầu tiên, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng chính thức đưa vấn đề kinh tế di sản vào trọng tâm, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong nhận thức, từ chỗ coi di sản là giá trị tinh thần sang một tài sản kinh tế, xã hội cần khai thác và phát huy trong xã hội đương đại. Bài viết bàn về kinh tế di sản, điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIV về phát triển kinh tế di sản và kiến nghị về việc hiện thực hóa quan điểm đó của Đảng trong bối cảnh mới ở Việt Nam.